Posts

Từ bào thai đến vỏ xe

Image
Ngày xưa ở Trung Quốc, bánh xe chủ yếu được làm bằng gỗ hoặc kim loại. Bánh xe gọi là 輪 (luân). Từ cuối thế kỷ XIX, cùng với sự du nhập của xe đạp, ô tô và kĩ thuật phương Tây, loại bánh xe dùng lốp cao su bơm hơi dần xuất hiện. Trong tiếng Hán, các bộ phận này được gọi bằng những thuật ngữ như 內胎 (nội thai - săm, ruột xe), 外胎 (ngoại thai - lốp ngoài) và 輪胎 (luân thai - lốp xe). Vậy chữ 胎 (thai) trong những từ này có quan hệ gì với nghĩa gốc “bào thai”? Có hai cách giải thích đáng chú ý. 1. Thuyết phiên âm Một cách giải thích cho rằng 胎 trong 輪胎 có thể liên quan đến việc phiên âm tiếng Anh tire/tyre (“lốp xe”). Âm 胎 trong tiếng Hán hiện đại là /tāi/, rất gần với âm đầu của tire/tyre. Cách giải thích này khá hấp dẫn vì nó đưa ra một con đường ngắn nhất giải thích cho một từ ngữ kĩ thuật mới. Tuy nhiên, điểm hạn chế của thuyết này là khó giải thích trọn vẹn sự xuất hiện của các từ như 內胎 (nội thai) hay 外胎 (ngoại thai), vốn mang cấu trúc định nghĩa thuần ngữ nghĩa tiếng Hán chứ không phải...

BỘ THỦ

Image
Để phục vụ cho việc sắp xếp và tra cứu, toàn bộ chữ Hán được chia thành nhiều nhóm gọi là bộ. Mỗi bộ có số lượng chữ nhiều ít khác nhau. Chữ đứng đầu mỗi bộ được gọi là bộ thủ. Tên của mỗi bộ được gọi theo tên của bộ thủ tương ứng. Tất cả các chữ trong cùng một bộ đều có chứa bộ thủ đó trong tự hình. Sáng kiến phân loại chữ Hán theo bộ một cách có hệ thống là của Hứa Thận. Trước đó, trong các từ thư như Nhĩ Nhã, người ta sắp xếp theo chủ đề. Trong Thuyết văn giải tự (hoàn thành khoảng năm 121 thời Đông Hán), lần đầu tiên Hứa Thận đã phân chia hơn 9.000 chữ Hán thu thập được thành 540 bộ, bắt đầu từ bộ 一 (Nhất) và kết thúc bằng bộ 亥 (Hợi), theo một trật tự mang đậm dấu ấn triết lí đương thời. Dù vẫn còn một số điểm chưa hợp lí, đây vẫn là nền tảng cho phương pháp phân loại theo bộ thủ, đặt cơ sở cho sự hình thành hệ thống 214 bộ thủ Khang Hi hiện vẫn còn được sử dụng rộng rãi. Trong các bộ từ điển giấy truyền thống, bộ thủ giữ vai trò trung tâm trong việc sắp xếp và tra cứu chữ Hán. Nga...

Lục thư

  Từ thuở ban sơ, nhiều dân tộc đã biết lưu giữ và truyền đạt thông tin bằng hình vẽ. Khi xã hội phát triển hơn, nhu cầu ghi chép thông tin trở nên phức tạp, việc chỉ dùng hình vẽ đơn thuần trở nên khó khăn. Nhiều dân tộc dần chuyển sang các hệ chữ thuộc loại hình ghi âm. Riêng người Hán vẫn tiếp tục phát triển và hoàn thiện hệ thống chữ viết dựa trên hình vẽ, bằng cách vẽ hình, ghép hình và mượn hình . Từ ba phương pháp cơ bản này, họ phát triển thành sáu cách tạo chữ, gọi là Lục thư (六書). Tượng hình (象形) Hứa Thận định nghĩa: 「象形者,畫成其物,隨體詰詘,日月是也。」( Tượng hình giả, họa thành kì vật, tùy thể cật khuất, nhật nguyệt thị dã. ) = Tượng hình là vẽ nên hình dạng của sự vật, các nét bút uốn theo hình thể của nó; 日 ( nhật : mặt trời) và 月 ( nguyệt : mặt trăng) là ví dụ. Tượng ( 象 ) có nghĩa là mô phỏng , bắt chước . Tượng hình là phương pháp tạo chữ bằng cách mô phỏng hình dáng của sự vật. Ví dụ: Vẽ hình tròn có chấm ở giữa mô phỏng mặt trời, tạo thành chữ 日 ( nhật ); Vẽ hình lưỡi...

Hạn tự thất thể

  Sự hình thành và phát triển của các thể chữ Hán Trong quá trình hình thành và phát triển, cùng với sự thay đổi của vật liệu, công cụ ghi chép cũng như nhu cầu sử dụng, chữ Hán đã trải qua nhiều biến đổi về hình thể và kết cấu. Quá trình ấy được khái quát thành Hán tự thất thể , gồm: giáp cốt văn , kim văn , triện thư ( đại triện và tiểu triện ), lệ thư , khải thư , thảo thư và hành thư . Chữ giản thể chỉ là một dạng cải biến của khải thư , không được xem là một thể chữ độc lập. Giáp cốt văn (甲骨文) Thời điểm xuất hiện: Cuối thời Thương (khoảng thế kỉ XIV – XI TCN). Giáp cốt văn là thể chữ Hán cổ nhất mà tư liệu có tính hệ thống còn lưu giữ được cho đến nay. Chữ được khắc trực tiếp trên yếm rùa ( giáp ) và xương thú ( cốt ), chủ yếu dùng để ghi chép các quẻ bói và kết quả bói toán của vương triều nhà Thương. Do đặc thù của kĩ thuật khắc đục trên chất liệu cứng, nét chữ giáp cốt văn thường thẳng, gãy, mảnh và ít nét cong . Về hình thể, các chữ vẫn mang tính tả thực cao và chư...