Posts

Lục thư

  Từ thuở ban sơ, nhiều dân tộc đã biết lưu giữ và truyền đạt thông tin bằng hình vẽ. Khi xã hội phát triển hơn, nhu cầu ghi chép thông tin trở nên phức tạp, việc chỉ dùng hình vẽ đơn thuần trở nên khó khăn. Nhiều dân tộc dần chuyển sang các hệ chữ thuộc loại hình ghi âm. Riêng người Hán vẫn tiếp tục phát triển và hoàn thiện hệ thống chữ viết dựa trên hình vẽ, bằng cách vẽ hình, ghép hình và mượn hình . Từ ba phương pháp cơ bản này, họ phát triển thành sáu cách tạo chữ, gọi là Lục thư (六書). Tượng hình (象形) Hứa Thận định nghĩa: 「象形者,畫成其物,隨體詰詘,日月是也。」( Tượng hình giả, họa thành kì vật, tùy thể cật khuất, nhật nguyệt thị dã. ) = Tượng hình là vẽ nên hình dạng của sự vật, các nét bút uốn theo hình thể của nó; 日 ( nhật : mặt trời) và 月 ( nguyệt : mặt trăng) là ví dụ. Tượng ( 象 ) có nghĩa là mô phỏng , bắt chước . Tượng hình là phương pháp tạo chữ bằng cách mô phỏng hình dáng của sự vật. Ví dụ: Vẽ hình tròn có chấm ở giữa mô phỏng mặt trời, tạo thành chữ 日 ( nhật ); Vẽ hình lưỡi...

Hạn tự thất thể

  Sự hình thành và phát triển của các thể chữ Hán Trong quá trình hình thành và phát triển, cùng với sự thay đổi của vật liệu, công cụ ghi chép cũng như nhu cầu sử dụng, chữ Hán đã trải qua nhiều biến đổi về hình thể và kết cấu. Quá trình ấy được khái quát thành Hán tự thất thể , gồm: giáp cốt văn , kim văn , triện thư ( đại triện và tiểu triện ), lệ thư , khải thư , thảo thư và hành thư . Chữ giản thể chỉ là một dạng cải biến của khải thư , không được xem là một thể chữ độc lập. Giáp cốt văn (甲骨文) Thời điểm xuất hiện: Cuối thời Thương (khoảng thế kỉ XIV – XI TCN). Giáp cốt văn là thể chữ Hán cổ nhất mà tư liệu có tính hệ thống còn lưu giữ được cho đến nay. Chữ được khắc trực tiếp trên yếm rùa ( giáp ) và xương thú ( cốt ), chủ yếu dùng để ghi chép các quẻ bói và kết quả bói toán của vương triều nhà Thương. Do đặc thù của kĩ thuật khắc đục trên chất liệu cứng, nét chữ giáp cốt văn thường thẳng, gãy, mảnh và ít nét cong . Về hình thể, các chữ vẫn mang tính tả thực cao và chư...