Posts

Showing posts with the label Tự học chữ Hán

Hữu

Image
Trong giáp cốt văn người ta dùng chữ 又 (hựu: tượng hình bàn tay phải) để ghi nghĩa nắm giữ, có . Về sau, 又 bị mượn (giả tá) dùng làm phó từ (lại, lần nữa), nên đến kim văn để ghi nghĩa có người ta thêm hình miếng thịt vào. Thời cổ, có được miếng thịt ăn là một sự kiện đáng dùng để biểu thị sự sở hữu. Trong các thời kì tiếp theo, cấu trúc "tay cầm miếng thịt" hầu như không thay đổi. Miếng thịt 肉 (nhục) thời bấy giờ viết khá giống chữ 月 (nguyệt: trăng). Thời kì lệ biến, hình bàn tay được viết thành 𠂇, từ đó định hình nên chữ 有 6 nét trong khải thư như hiện nay. Thuyết văn giải tự: 「有,不宜有也。《春秋傳》曰:日月有食之。从月,又聲。」 Hữu, bất nghi hữu dã. Xuân Thu truyện viết: 'Nhật nguyệt hữu thực chi.' Tòng Nguyệt, Hựu thanh. = [Hữu] là điều đáng lẽ không nên có. Sách Xuân Thu: "Mặt trời mặt trăng có lúc bị ăn". Cấu tạo từ bộ kiện Nguyệt (月), Hựu (又) là bộ phận biểu âm (thanh phù). Hứa Thận dùng cụm từ "不宜有" (không nên có) là nhắm vào câu trong kinh Xuân Thu được ông trí...

Từ chữ 邨 đến chữ 村: Ngôn ngữ là của số đông

Bài đọc thêm Từ chữ 邨 đến chữ 村: Ngôn ngữ là của số đông Trong Thuyết văn giải tự, Hứa Thận ghi nhận: 「邨,地名。从邑屯聲。」 Thôn, địa danh, cấu tạo từ bộ kiện ấp, đồn làm thanh phù. Như vậy, 邨 vốn là tên gọi của một vùng đất, là chữ hình thanh, cấu tạo từ hai bộ kiện: 邑 (ấp: vùng đất). 屯 (đồn /tún/). Từ tên gọi một vùng đất, nghĩa được mở rộng, phiếm chỉ những xóm làng nhỏ, nơi tụ cư của những người dân quê, phần lớn sống bằng nghề nông. Bản thân bộ kiện 邑 (với nghĩa gốc là vùng đất phong) cũng như 屯 (vốn có nghĩa là tụ tập, đồn trú) đều hỗ trợ cho sự chuyển nghĩa này, tạo ra một nét nghĩa hội ý rất thỏa đáng. Tuy nhiên vào thời Tống, khi Từ Huyễn vâng mệnh vua hiệu đính Thuyết văn giải tự đã chú thích: 臣鉉等曰:今俗作村,非是 Thần Huyễn đẳng viết: Kim tục tác thôn, phi thị = Thần là Từ Huyễn cùng các đồng sự xin thưa: Nay tục viết thành 村 là không đúng. Tức là, bên cạnh chữ 邨 chính thống được Thuyết văn ghi nhận thời Hán, trong dân gian bấy giờ còn sử dụng chữ 村 để ghi nghĩa "xóm làng". Vì sao ...

Từ bào thai đến vỏ xe

Image
Ngày xưa ở Trung Quốc, bánh xe chủ yếu được làm bằng gỗ hoặc kim loại. Bánh xe gọi là 輪 (luân). Từ cuối thế kỷ XIX, cùng với sự du nhập của xe đạp, ô tô và kĩ thuật phương Tây, loại bánh xe dùng lốp cao su bơm hơi dần xuất hiện. Trong tiếng Hán, các bộ phận này được gọi bằng những thuật ngữ như 內胎 (nội thai - săm, ruột xe), 外胎 (ngoại thai - lốp ngoài) và 輪胎 (luân thai - lốp xe). Vậy chữ 胎 (thai) trong những từ này có quan hệ gì với nghĩa gốc “bào thai”? Có hai cách giải thích đáng chú ý. 1. Thuyết phiên âm Một cách giải thích cho rằng 胎 trong 輪胎 có thể liên quan đến việc phiên âm tiếng Anh tire/tyre (“lốp xe”). Âm 胎 trong tiếng Hán hiện đại là /tāi/, rất gần với âm đầu của tire/tyre. Cách giải thích này khá hấp dẫn vì nó đưa ra một con đường ngắn nhất giải thích cho một từ ngữ kĩ thuật mới. Tuy nhiên, điểm hạn chế của thuyết này là khó giải thích trọn vẹn sự xuất hiện của các từ như 內胎 (nội thai) hay 外胎 (ngoại thai), vốn mang cấu trúc định nghĩa thuần ngữ nghĩa tiếng Hán chứ không phải...

Sách Ngữ pháp Hán văn

   # 1. Giảng Giải Văn Phạm Hán Văn (Hứa Thế Anh - Nguyễn Khuê dịch) Tóm tắt nội dung: Chương 1: Dẫn nhập: Chương này định nghĩa ngôn ngữ là công cụ biểu đạt tư tưởng và tình cảm. Tác giả phân tích ba yếu tố cấu thành ngôn ngữ là ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp. Đồng thời, chương này phân biệt giữa văn ngôn (cổ văn) và bạch thoại (văn hiện đại), khẳng định môn học này tập trung nghiên cứu cấu trúc ngữ câu của văn ngôn. Chương 2: Tự - Từ - Phức từ: Nội dung chính là phân biệt giữa "tự" (chữ đơn lẻ) và "từ" (đơn vị ngôn ngữ có nghĩa hoàn chỉnh). Chương này đi sâu vào phức từ (từ ghép), chia thành hai loại lớn là phức từ diễn thanh (dựa trên quan hệ âm thanh như song thanh, điệp vận) và phức từ hợp nghĩa (dựa trên quan hệ ý nghĩa như liên hợp, tổ hợp). Chương 3: Phân chia từ loại và quan hệ phối hợp giữa từ với từ: Tác giả chia từ thành hai loại lớn: Thực từ (danh từ, hình dung từ, động từ, hạn chế từ, chỉ xưng từ) và Hư từ (quan hệ từ, ngữ khí từ). C...

Ngữ pháp Hán ngữ

#4. "Ngữ pháp Hán ngữ cổ và hiện đại" của tác giả Trần Văn Chánh: # Tổng quan về tác phẩm Quyển sách được biên soạn nhằm mục đích cung cấp các quy tắc về từ và cách dùng từ để sắp xếp thành câu văn, giúp người học am tường ngữ pháp để đọc hiểu và dịch đúng Hán văn. Tác giả nhấn mạnh việc tập trung vào các quy luật thực tế để người học không bị "lạc lối" trong các thuật ngữ ngữ pháp phức tạp. # Cấu trúc nội dung Sách được chia làm hai phần chính và các phụ lục hỗ trợ: ## Phần thứ nhất: Ngữ pháp Hán ngữ Cổ đại Đây là phần trọng tâm và chiếm hầu hết nội dung của sách. Nội dung bao gồm:    Chương I: Các đơn vị ngữ pháp:        Tự và Từ: Phân biệt giữa "Tự" (ký hiệu để viết, đơn vị nhỏ nhất của ngữ pháp) và "Từ" (đơn vị cơ sở của lời nói, có nghĩa và có thể dùng độc lập).        Ngữ tố: Đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa, là yếu tố tạo nên từ.        Phân loại từ: Bao gồm từ đơn âm tiết, từ đa âm tiết, từ kết hợp.   ...

1000 từ tiếng Hán thông dụng nhất

Danh sách 1000 từ tiếng Hán thông dụng nhất (xếp theo tần suất) ở Đài Loan Danh sách gồm 4 cột: Phồn thể - giản thể - pinyin (kèm audio) - nghĩa (tiếng Anh) link: https://en.wiktionary.org/wiki/Appendix:Mandarin_Frequency_lists/1-1000