Hữu

Trong giáp cốt văn người ta dùng chữ 又 (hựu: tượng hình bàn tay phải) để ghi nghĩa nắm giữ, có. Về sau, 又 bị mượn (giả tá) dùng làm phó từ (lại, lần nữa), nên đến kim văn để ghi nghĩa người ta thêm hình miếng thịt vào. Thời cổ, có được miếng thịt ăn là một sự kiện đáng dùng để biểu thị sự sở hữu.


Trong các thời kì tiếp theo, cấu trúc "tay cầm miếng thịt" hầu như không thay đổi. Miếng thịt 肉 (nhục) thời bấy giờ viết khá giống chữ 月 (nguyệt: trăng). Thời kì lệ biến, hình bàn tay được viết thành 𠂇, từ đó định hình nên chữ 有 6 nét trong khải thư như hiện nay.

Thuyết văn giải tự: 「有,不宜有也。《春秋傳》曰:日月有食之。从月,又聲。」 Hữu, bất nghi hữu dã. Xuân Thu truyện viết: 'Nhật nguyệt hữu thực chi.' Tòng Nguyệt, Hựu thanh. = [Hữu] là điều đáng lẽ không nên có. Sách Xuân Thu: "Mặt trời mặt trăng có lúc bị ăn". Cấu tạo từ bộ kiện Nguyệt (月), Hựu (又) là bộ phận biểu âm (thanh phù).

Hứa Thận dùng cụm từ "不宜有" (không nên có) là nhắm vào câu trong kinh Xuân Thu được ông trích dẫn sau đó: 「日月有食之」. Nhật thực, nguyệt thực là hiện tượng mà người xưa cho là bất thường, đáng lẽ không nên xảy ra mà lại xảy ra.

Đoàn Ngọc Tài giải thích: 「本是不當有而有之偁」 bản thị bất đáng hữu nhi hữu chi xưng: gọi cái không đáng có mà lại có. Tức, cuối cùng, nghĩa của 有 vẫn là “có, tồn tại” như cách hiểu thông thường.

Hứa Thận đã giải nghĩa một cách quanh co. Ngoài ra ông phân tích cấu tạo cũng không phù hợp với hình thức ban đầu của chữ Hữu. Trong giáp cốt văn, hình tay cầm miếng thịt, giống chữ Nguyệt (月) nhưng không phải chữ Nguyệt (mặt trăng) - trong giáp cốt văn, Nguyệt tượng hình mặt trăng khuyết, hình thể rất khác.

link: https://tunguyenchuhan.miraheze.org/wiki/有



Comments