Từ chữ 邨 đến chữ 村: Ngôn ngữ là của số đông
Bài đọc thêm
Từ chữ 邨 đến chữ 村: Ngôn ngữ là của số đông
Trong Thuyết văn giải tự, Hứa Thận ghi nhận: 「邨,地名。从邑屯聲。」 Thôn, địa danh, cấu tạo từ bộ kiện ấp, đồn làm thanh phù.
Như vậy, 邨 vốn là tên gọi của một vùng đất, là chữ hình thanh, cấu tạo từ hai bộ kiện:
邑 (ấp: vùng đất).
屯 (đồn /tún/).
Từ tên gọi một vùng đất, nghĩa được mở rộng, phiếm chỉ những xóm làng nhỏ, nơi tụ cư của những người dân quê, phần lớn sống bằng nghề nông. Bản thân bộ kiện 邑 (với nghĩa gốc là vùng đất phong) cũng như 屯 (vốn có nghĩa là tụ tập, đồn trú) đều hỗ trợ cho sự chuyển nghĩa này, tạo ra một nét nghĩa hội ý rất thỏa đáng.
Tuy nhiên vào thời Tống, khi Từ Huyễn vâng mệnh vua hiệu đính Thuyết văn giải tự đã chú thích: 臣鉉等曰:今俗作村,非是 Thần Huyễn đẳng viết: Kim tục tác thôn, phi thị = Thần là Từ Huyễn cùng các đồng sự xin thưa: Nay tục viết thành 村 là không đúng.
Tức là, bên cạnh chữ 邨 chính thống được Thuyết văn ghi nhận thời Hán, trong dân gian bấy giờ còn sử dụng chữ 村 để ghi nghĩa "xóm làng".
Vì sao đã có chữ 邨, lại còn đặt thêm chữ 村 để thay thế, và nhờ vào đâu để dần đẩy chữ gốc 邨 vào chỗ quên lãng?
Có lẽ, lí do đầu tiên là sự minh xác về nghĩa: chữ 村 ngay từ khi ra đời đã mang thẳng nét nghĩa "xóm làng", không phải trải qua con đường phái sinh từ một địa danh như 邨.
Lí do thứ hai là sự trực quan về hình ảnh. Trái với thành thị là một không gian kín với tường thành bao quanh, nhà cửa phố xá san sát, cây cối hiếm hoi; xóm làng thôn quê là một không gian thoáng đãng, thường ngút một màu xanh của lúa của dâu. Trong chữ 邨, bộ kiện 邑 (ấp) với hình tường thành bao quanh (囗) tù túng rõ ràng không phù hợp để mô tả làng quê bằng bộ kiện 木 (mộc) trong chữ 村.
Cuối cùng, có lẽ là vấn đề về âm thanh và cảm nhận. 屯 đọc là đồn (tụ tập), ngoài ra còn đọc là truân (truân chuyên, khó khăn), sao dễ chịu bằng 寸 (thốn) vốn tượng hình bàn tay vô cùng thân thuộc?
Chữ 村 tuy được phân tích hàn lâm là chữ hình thanh, nhưng nếu chiết tự một cách bình dân thì vẫn hết sức tự nhiên: thôn xóm là nơi người ta dùng tay (寸) trồng cây (木) lúa để ăn, trồng dâu để nuôi tằm dệt lụa...
Và thế là, một chữ chính thống có cấu trúc chặt chẽ, đầy ý nghĩa đã bị thay thế bởi một chữ "bình dân" nhưng trực quan và dễ hiểu hơn. Ngôn ngữ bao giờ cũng là của số đông những người sử dụng nó, mặc kệ những bậc sĩ đại phu lắm chữ trợn mắt lắc đầu 非是 (phi thị)!
link: https://tunguyenchuhan.miraheze.org/wiki/村
Comments
Post a Comment